5 đề xuất mở đường phát triển ‘cụm công nghiệp nuôi biển’ ngoài khơi

Đầu tư lớn, rủi ro cao, thiếu vốn, hạ tầng...đang cản trở nuôi biển hiện đại. Doanh nghiệp đề xuất 5 kiến nghị tạo lực đẩy phát triển kinh tế biển xanh, đa giá trị.

Những “điểm nghẽn” cản bước nuôi biển công nghệ cao

Giữa biển khơi, nơi sóng gió và rủi ro luôn hiện hữu, giấc mơ “Hải trình xanh” của anh Nguyễn Bá Ngọc, Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần Mực nhảy Biển Đông chưa bao giờ là bài toán dễ dàng.

Mang theo khát vọng ‘Cùng ngư dân Việt - Tạo giá trị khác biệt’, 6 năm qua, anh Ngọc cùng người dân địa phương Ninh Thuận và bây giờ là Cô Tô (Quảng Ninh) bền bỉ vun đắp, xây dựng nền hệ sinh thái nuôi biển bền vững, hài hòa trên vùng biển vốn trước đây chủ yếu gắn với nghề khai thác tự nhiên. Từ những bước đi đầu tiên, mô hình nuôi biển từng bước được hoàn thiện, mở ra hướng phát triển mới để ngành nuôi biển Việt Nam tự tin sánh vai cùng thế giới.

“Chúng tôi đã đi từ Ninh Thuận đến Cô Tô, từ những vùng biển nhiều nắng gió đến các đảo tiền tiêu nơi đầu sóng ngọn gió. Điều chúng tôi nhìn thấy rất rõ là ngư dân không thiếu ý chí. Doanh nghiệp không thiếu khát vọng. Người trẻ cũng không thiếu tinh thần dấn thân. Cái thiếu lớn nhất hiện nay là một cơ chế đủ mở để tích hợp nhiều mô hình trên cùng một không gian biển. Một hành lang pháp lý đủ rõ để doanh nghiệp dám đầu tư dài hạn. Một cơ chế giao biển thực sự đồng hành cùng người làm thật. Và sự kết nối đồng bộ giữa quản lý tài nguyên, môi trường, thủy sản, du lịch và đầu tư...”, anh Ngọc trăn trở.

Anh Nguyễn Bá Ngọc, Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần Mực nhảy Biển Đông nhấn mạnh: 'Chỉ cần chọn 5 - 10 doanh nghiệp tiên phong để ưu tiên cơ chế, chính sách làm thí điểm trong giai đoạn đầu'. Ảnh: BN.

Anh Nguyễn Bá Ngọc, Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần Mực nhảy Biển Đông nhấn mạnh: “Chỉ cần chọn 5 - 10 doanh nghiệp tiên phong để ưu tiên cơ chế, chính sách làm thí điểm trong giai đoạn đầu". Ảnh: BN.

Anh Nguyễn Bá Ngọc, Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần Mực nhảy Biển Đông nhấn mạnh: “Chỉ cần chọn 5 - 10 doanh nghiệp tiên phong để ưu tiên cơ chế, chính sách làm thí điểm trong giai đoạn đầu. Sau khoảng 2 năm triển khai, tiến hành đánh giá, đo lường hiệu quả để từng bước nhân rộng, hình thành các cụm công nghiệp nuôi biển phát triển bền vững”.

Trước những khó khăn, Công ty Cổ phần Mực nhảy Biển Đông vừa có văn bản gửi UBND tỉnh Quảng Ninh, cùng kính gửi Sở Nông nghiệp và Môi trường; UBND đặc khu Cô Tô và phòng ban chuyên môn; Sở Tài chính; Thuế cơ sở 3 tỉnh Quảng Ninh; Chi cục Biển, Hải đảo và Thủy sản, Kiểm ngư về việc xem xét chấp thuận cơ chế hỗ trợ đối với Dự án khu nuôi trồng thủy sản tập trung ngoài 6 hải lý, quy mô 209,8 ha tại Đặc khu Cô Tô, tỉnh Quảng Ninh.

Trong văn bản, Công ty Biển Đông đã chỉ rõ những khó khăn, thách thức của doanh nghiệp đầu tư nuôi biển hiện nay.

Trước hết là áp lực đầu tư nền tảng và dòng vốn dài hạn rất lớn. Nuôi biển công nghệ cao ngoài khơi là lĩnh vực có suất đầu tư đặc biệt cao, đòi hỏi doanh nghiệp phải đầu tư đồng bộ hệ thống lồng HDPE chịu sóng gió cấp cao, hệ thống neo ngoài khơi, thiết bị quan trắc môi trường - an toàn sinh học, cùng hạ tầng vận hành và sinh hoạt phục vụ lực lượng bám biển dài ngày. Đây là mô hình đầu tư mang tính hạ tầng chiến lược cho kinh tế biển hiện đại, có chu kỳ hoàn vốn dài, chi phí duy trì lớn và yêu cầu tái đầu tư liên tục để đảm bảo an toàn vận hành trong điều kiện biển khơi.

Song song đó là thiếu cơ chế tài chính, bảo hiểm phù hợp cho kinh tế biển. Hiện nay chưa có cơ chế tín dụng và bảo hiểm phù hợp cho mô hình nuôi biển xa bờ. Nhiều tài sản đầu tư trên biển cũng chưa đủ điều kiện để sử dụng làm tài sản bảo đảm, gây khó khăn cho doanh nghiệp trong tiếp cận vốn trung và dài hạn.

Đồng thời là rủi ro thiên tai và biến đổi khí hậu cao. Hoạt động nuôi ngoài khơi trên 6 hải lý chịu tác động trực tiếp từ bão lớn, sóng cao, dòng chảy mạnh và các hiện tượng thời tiết cực đoan do biến đổi khí hậu. Chỉ một đợt thiên tai bất thường cũng có thể gây tổn thất nghiêm trọng cho hệ thống lồng nuôi, con giống và toàn bộ tài sản đầu tư trên biển, thậm chí có nguy cơ mất trắng.

Bên cạnh đó là áp lực về chi phí logistics biển và vật tư kỹ thuật tăng mạnh. Trong thời gian biến động giá dầu khí và chi phí logistics tăng mạnh, giá vật liệu, thiết bị, lồng nhựa HDPE, thức ăn và nguyên vật liệu phục vụ nuôi biển ra khu vực xa bờ gặp rất nhiều khó khăn. Chi phí đầu tư thực tế tăng cao hơn nhiều so với dự toán ban đầu, tạo áp lực lớn lên doanh nghiệp trong giai đoạn triển khai.

Ngoài ra, thiếu hạ tầng hậu cần chuyên biệt cho nuôi biển xa bờ. Hệ thống logistics lạnh, cảng dịch vụ hậu cần biển, khu tập kết vật tư và dịch vụ kỹ thuật phục vụ vận hành ngoài khơi hiện còn thiếu và chưa đồng bộ, làm tăng chi phí vận hành và giảm hiệu quả khai thác kinh tế biển.

Hơn thế nữa, là câu chuyện thiếu nguồn nhân lực bám biển dài ngày. Làm việc ngoài biển khơi trong thời gian dài đòi hỏi đội ngũ lao động có sức khỏe, kỹ năng và tinh thần bám biển tốt. Tuy nhiên, điều kiện sinh hoạt ngoài khơi còn nhiều thiếu thốn, môi trường làm việc khắc nghiệt nên việc duy trì và phát triển nguồn nhân lực ổn định là một thách thức rất lớn.

Và đặc biệt là thiếu cơ chế khai thác không gian biển đa mục tiêu. Việc kết hợp giữa nuôi biển, du lịch, dịch vụ hậu và năng lượng tái tạo hiện chưa có cơ chế quy hoạch và quản lý đồng bộ, làm hạn chế hiệu quả khai thác tổng hợp trên cùng một không gian biển.

Kiến nghị mở cơ chế, tạo điểm tựa để phát triển kinh tế biển đa giá trị

Để tạo điều kiện hình thành mô hình kinh tế biển xanh, công nghệ cao và đa giá trị theo định hướng của Nghị quyết số 36-NQ/TW, Công ty Biển Đông kính đề nghị UBND tỉnh cùng các sở, ban, ngành quan tâm xem xét các nội dung.

Một là, xem xét miễn 100% tiền thuê khu vực biển diện tích 209 ha cùng khu đất phục vụ hậu cần nuôi biển trong thời gian 10 năm đầu kể từ ngày có quyết định giao đất, giao khu vực biển; đồng thời xem xét giảm 50% tiền thuê trong thời gian còn lại của dự án nhằm tạo điều kiện cho doanh nghiệp ổn định sản xuất và tái đầu tư phát triển.

Hải trình xanh của người mở biển Nguyễn Bá Ngọc ở Cô Tô dự kiến có thể mang lại sản lượng 670.000 tấn thủy sản mỗi năm. Ảnh: BN.

Hải trình xanh của người mở biển Nguyễn Bá Ngọc ở Cô Tô dự kiến có thể mang lại sản lượng 670.000 tấn thủy sản mỗi năm. Ảnh: BN.

Hai là, hỗ trợ doanh nghiệp hoàn thiện thủ tục giao khu vực biển, thuê đất và bố trí quỹ đất phục vụ dự án, bao gồm khu vực hậu cần nuôi biển, sản xuất con giống, logistics lạnh, tập kết vật tư, sơ chế, bảo quản và chế biến sâu thủy sản.

Ba là, tạo cơ chế hỗ trợ tiếp cận nguồn vốn trung - dài hạn, lãi suất phù hợp. Đây là điều kiện tiên quyết để doanh nghiệp mạnh dạn dịch chuyển từ mô hình nuôi ven bờ truyền thống, manh mún sang mô hình nuôi khơi xa bằng công nghệ hiện đại, thúc đẩy tiến trình công nghiệp hóa ngành thủy sản.

Bốn là, tạo cơ chế bảo hiểm đối với tài sản đầu tư trên khu vực biển thuộc dự án. Đối với một ngành sản xuất chịu tác động trực tiếp bởi thiên tai bất khả kháng như nuôi biển, gói bảo hiểm tài sản là "phao cứu sinh" duy nhất bảo vệ doanh nghiệp trước nguy cơ trắng tay sau mỗi mùa mưa bão. Có bảo hiểm, doanh nghiệp sẽ có điểm tựa tâm lý vững vàng để kiên trì bám biển, tái sản xuất nhanh chóng sau sự cố mà không bị đứt gãy chuỗi cung ứng.

Năm là, cho phép triển khai cơ chế thí điểm đối với mô hình kinh tế biển tích hợp đa giá trị trên khu vực biển và đất thuộc dự án, bao gồm nuôi biển công nghệ cao, du lịch biển xanh, dịch vụ hậu cần và năng lượng tái tạo. Tạo điều kiện để doanh nghiệp được kết hợp phát triển mô hình du lịch trải nghiệm biển với các chương trình “Du lịch Biển xanh” và “Du lịch Hạnh phúc” nhằm tạo thêm nguồn doanh thu ngắn hạn phục vụ tái đầu tư cho hoạt động nuôi biển công nghệ cao. Mô hình này không chỉ góp phần quảng bá hình ảnh địa phương, tạo điểm nhấn du lịch mới trên biển, tiêu thụ sản phẩm thủy sản tại chỗ mà còn mở ra hướng phát triển kinh tế biển đa giá trị theo định hướng bền vững.

Kích cầu đầu tư, tạo sinh kế và góp phần giữ vững chủ quyền biển, đảo Tổ quốc

Anh Ngọc khẳng định: “Việc xem xét thực thi các cơ chế hỗ trợ đối với dự án không chỉ mang ý nghĩa tháo gỡ khó khăn cho một doanh nghiệp đơn lẻ, mà còn tạo hiệu ứng tương tự một gói kích cầu đầu tư chiến lược đối với lĩnh vực nuôi biển công nghệ cao ngoài khơi - lĩnh vực đang được định hướng là trụ cột mới của kinh tế biển Việt Nam”.

Theo tính toán của doanh nghiệp, tổng mức hỗ trợ dự kiến khoảng 8,88 tỷ đồng/năm, bao gồm hỗ trợ thuê mặt nước biển (0,84 tỷ đồng), hỗ trợ thuê đất (1,05 tỷ đồng) và hỗ trợ lãi suất đầu tư (7 tỷ đồng).

Tuy nhiên, giá trị kinh tế tạo ra lớn hơn rất nhiều so với nguồn lực hỗ trợ ban đầu. Khi dự án vận hành ổn định, hệ sinh thái “Khu kinh tế phức hợp thủy sản xanh” dự kiến tạo ra tổng quy mô giao dịch khoảng 612,37 tỷ đồng/năm, trong đó doanh thu trực tiếp của doanh nghiệp đạt khoảng 409,97 tỷ đồng/năm. Các chuỗi giá trị được hình thành đồng thời từ nuôi biển công nghệ cao, thu mua - phân phối thủy sản, dịch vụ hậu cần, logistics, du lịch biển xanh và cung ứng vật tư kỹ thuật.

Anh Nguyễn Bá Ngọc tin rằng, nếu có được những thay đổi mạnh mẽ về thể chế, Việt Nam hoàn toàn có thể trở thành trung tâm kinh tế biển mới của thế giới trong tương lai. Ảnh: BN.

Anh Nguyễn Bá Ngọc tin rằng, nếu có được những thay đổi mạnh mẽ về thể chế, Việt Nam hoàn toàn có thể trở thành trung tâm kinh tế biển mới của thế giới trong tương lai. Ảnh: BN.

Về hiệu quả tài chính đối với Nhà nước, dự án dự kiến đóng góp khoảng 40,83 tỷ đồng/năm, bao gồm khoảng 36,76 tỷ đồng cho ngân sách nhà nước từ thuế VAT, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân và các khoản thuế, phí liên quan; đồng thời tạo thêm khoảng 4,07 tỷ đồng cho các khoản an sinh xã hội, bảo hiểm lao động, môi trường và dịch vụ công.

Đáng chú ý, ngay cả khi áp dụng toàn bộ cơ chế hỗ trợ đầu tư, ngân sách Nhà nước vẫn dự kiến thu ròng khoảng 27,88 tỷ đồng mỗi năm, tương đương mức thu hồi ngân sách gấp hơn 3 lần giá trị hỗ trợ ban đầu. Điều này cho thấy cơ chế ưu đãi không làm giảm nguồn thu ngân sách, mà thực chất là hình thức “đầu tư dẫn dắt”, tạo động lực thu hút nguồn vốn xã hội hóa vào phát triển kinh tế biển hiện đại.

Hiệu quả lan tỏa sẽ còn lớn hơn khi mô hình được nhân rộng. Theo kịch bản mở rộng quy mô, nếu phát triển 100 khu kinh tế biển tương tự, doanh thu dự kiến có thể đạt khoảng 40.900 tỷ đồng/năm, trong khi nguồn thu ngân sách sau hỗ trợ đạt khoảng 2.788 tỷ đồng/năm. Nếu mở rộng lên 1.000 khu kinh tế biển, quy mô doanh thu có thể đạt khoảng 409.000 tỷ đồng/năm, tạo nguồn thu ngân sách khoảng 27.880 tỷ đồng/năm, hình thành động lực tăng trưởng mới cho kinh tế biển quốc gia.

Bên cạnh hiệu quả kinh tế, dự án còn tạo tác động xã hội tích cực và lâu dài. Dự kiến mô hình tạo việc làm ổn định cho hơn 200 lao động trực tiếp, mở rộng sinh kế cho cộng đồng ngư dân ven biển, tạo cơ hội thu hút lao động trẻ quay trở lại phát triển kinh tế biển, góp phần giảm áp lực di cư lao động và nâng cao thu nhập khu vực ven biển. Đồng thời, việc hình thành hệ sinh thái nuôi biển công nghệ cao, dịch vụ hậu cần, chế biến, du lịch biển và kinh tế tuần hoàn sẽ thúc đẩy quá trình chuyển đổi sang mô hình phát triển biển xanh, bền vững và đa giá trị.

Xa hơn, việc hình thành cộng đồng dân cư bám biển lâu dài, gia tăng hiện diện kinh tế trên biển đảo còn mang ý nghĩa chiến lược trong bảo vệ chủ quyền quốc gia, hiện thực hóa mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia “mạnh về biển, giàu từ biển”.

“Nếu không hành động, những con số kỳ vọng sẽ mãi chỉ dừng lại trên giấy. Nhưng khi cơ chế được khơi thông, khi doanh nghiệp có thêm động lực để đầu tư và phát triển, nuôi biển không chỉ tạo ra sản lượng hay giá trị kinh tế đơn thuần, mà còn góp phần bảo đảm an ninh lương thực, cung cấp protein chất lượng cao, tạo sinh kế bền vững cho người dân ven biển và mở ra không gian phát triển mới cho kinh tế biển Việt Nam. Tôi tin rằng nếu có được những thay đổi mạnh mẽ về thể chế, Việt Nam hoàn toàn có thể trở thành trung tâm kinh tế biển mới của thế giới trong

anh tin bai

tương lai”, anh Nguyễn Bá Ngọc, Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần Mực nhảy Biển Đông tin tưởng.

https://nongnghiepmoitruong.vn

Thư viện video
Kết nối với chúng tôi
Bản quyền thuộc LIÊN MINH HỢP TÁC XÃ TỈNH QUẢNG NINH 
Địa chỉ: Số 2, phố Bến Đoan, phường Hồng Gai, tỉnh Quảng Ninh
Điện thoại: 0203.3825.409
Email: lmhtxdnnqd@gmail.com; lmhtx@quangninh.gov.vn

Copyright @ 2026 VNPT Quảng Ninh